Friday, August 8, 2014

Huỳnh Tâm: Tu lieu tinh bao Trung Cong


Huỳnh Tâm 

“…Tư liệu đang nằm trong tình trạng mạch nước rõ rỉ và dĩ nhiên lâu ngày ắt phải thấm đất ướt sâu. Hy vọng sẽ chảy mãi không cạn nguồn sự thật mà đã hơn 74 năm cấm kỵ mà người dân không được biết đến. Chúng tôi tin rằng nhân dân Việt khó chấp nhận kẻ phản bội Tổ quốc lại tự do sống nhởn nhơ trong nhà Việt Nam…”


Ngày 15 tháng 8 năm 1963, Hồ Chí Minh tuyên bố "trục xuất các lực lượng Mỹ" nhưng lời tuyên bố này đã không được phổ biến vì Mao chưa cho nói đích danh Mỹ ở đây. Cùng ngày ông Hồ gửi 2 công văn đến Quân ủy Trung ương (CPC) Việt Nam, và Nguyễn Văn Linh phái viên của Quân Giải Phóng miền Nam Việt Nam, nội dung Hồ giới thiệu : "…. Quý đồng chí miền Nam chuẩn bị tiếp đón những nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc đang bí mật vào miền Nam, quý đồng chí Trung Quốc có nhiệm vụ quan sát tình hình, lập chi tiết kế hoạch, phối trí lại quân sự, điều động chiến trường cho phù hợp chiến lược mới, tôi thay mặt đảng và chính phủ hy vọng quý đồng chí miền Nam đấu tranh nhất định giành chiến thắng ….."





Ngày 21 tháng 7 năm 1955. Mao Trạch Đông (毛泽东), Chu Đức (朱德), Hồ Chí Minh (胡志明), đồng chí Hoàng Văn Hoan (黄文欢) tại sân bay Bắc Kinh. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.



Hôm sau Hồ Chí Minh báo cáo về Bắc Kinh, Mao Trạch Đông nhận được kế hoạch cơ bản chiến lược Việt Nam chống lại Hoa Kỳ, cùng lúc đưa ra kế hoạch bí mật phản công, tiến hành theo chỉ đạo của Mao:


‒ Mùa thu năm 1964. Tình hình chiến sự tại Việt Nam leo thang, Mỹ lên kế hoạch 1 "Sự cố phía Bắc vùng Vịnh". Người Mỹ bắt đầu bổ xung quân số ở phía Nam. Trong cuộc chiến này, tôi tin tưởng đảng ta nhất định giành được chiến thắng.


Ngày 20 tháng 11 năm 1964, Mao Trạch Đông quan tâm nhiều hơn đến tình hình chiến tranh tại miền Nam Việt Nam. Từ Bắc Kinh Mao truyền lệnh cho Hồ Chí Minh mở rộng chiến tranh làm áp lực buộc người Mỹ rút quân.

Ngày 26 tháng 8 năm 1963, lần đầu tiên họ Hồ tuyên bố:


‒ Yêu cầu người Mỹ rút các lực lượngquân sự ra khỏi miền Nam Việt Nam, các vấn đề của Việt Nam phải để cho nhân dân Việt Nam tự giải quyết.


Hồ Chí Minh vừa tuyên bố, tức khắc túi khôn của Việt Nam bị bóp chết. Mọi sáng kiến và đường hướng của đảng CSVN kể từ nay đều thuộc sự chỉ đạo của Trung Quốc. Ngày hôm sau Hồ Chí Minh tiếp chính phủ Kim Nhật Thành Hàn Quốc. Mục đích chuyến viếng thăm này Mao có chủ ý muốn Hồ Chí Minh học tập theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, Mao hy vọng cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc như Triều Tiên.





Ngày 21 tháng 11 năm 1964, chủ tịch Kim Nhật Thành và Chủ tịch Hồ Chí Minh tại khu nghỉ Hồ Tây. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.



Nhân dịp tiếp Kim Nhật Thành, Hồ phấn khởi tuyên bố:


"…. Việt Nam quyết tâm chống lại xâm lăng Hoa Kỳ đã thảm sát người dân Nam Việt Nam" , "Ngô Đình Diệm là tay sai trung thành của đế quốc Mỹ, tuy nhiên, vai trò tay sai nếu bị chết đi, hoặc thậm chí bị kéo vào chủ nghĩa đế quốc Mỹ, theo đuổi chính sách hiếu chiến chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Đảng nhà nước chúng tôi, sẵn sàng chuyển sang điểm A, Ngô Đình Diệm cũng sẽ theo tiền lệ số phận Lý Thừa Vãn (李承晚) của Nam Hàn. Một tay sai chết sẽ dẫn đầu những mũi tên đến mục đích cuối cùng. Những tay sai chỉ làm vật hy sinh cho chủ nghĩa đế quốc tế Mỹ…".


Cũng vào thời điểm này (1963) chính quyền miền Nam Việt Nam chưa hề lên tiếng tố cáo sự thực của miền Bắc đã có sự hiện diện của 1,4 triệu quân bành trướng Trung Quốc, thậm chí quân phục kaki màu cỏ úa của Trung Quốc đã nhuộm toàn bộ miền Bắc. Trong khi ấy miền Nam Việt Nam chỉ có 300.000 quân Mỹ, điều này cho thấy quân số Mỹ-Trung không đối xứng.


Ngô Đình Diệm âm thầm sắp xếp cánh cửa quay vòng số một, kiềm chế được những lực lượng quân cộng sản miền Bắc xâm nhập vào Nam. Nhưng rất tiếc sau khi Ngô Đình Diệm qua đời, những con rối chính trị không có khả năng làm suy giảm thế lực cộng sản. Lúc này miền Nam Việt Nam cũng không khác tình hình bán đảo Triều Tiên vào năm 1950 bao nhiêu.


Hiện chiến trường đã khởi động leo thanh từng ngày. Mao Trạch Đông viện trợ thêm sức mạnh cho đảng cộng sản Hồ Chí Minh. Họ lấy làm phấn khởi vì mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc. Họ ôm nhau ca tụng "Tình đồng chí, tình anh em" muôn đời.





Tại tư gia Bắc Kinh, "Cha già dân tộc", ăn trưa, tay phải cằm bánh mì, tay trái ly rượu mạnh đã lưng, chiều uống rượu mạnh, làm thêm cữ café nghe nhạc Tàu, hút thuốc thơm Bastos Luxe. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.



Ngày 07 tháng 2 năm 1965, Tổng thống Johnson ra lệnh cho các tàu sân bay Hạm đội 7, ném bom khắp miền Bắc Việt Nam. Trung Cộng la làng, tuyên bố: "Toàn cõi Đông Dương và nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam đã bị người Mỹ tấn công”.


Ngày 17 tháng 4 năm 1965, Trung Quốc thành lập Bộ chỉ huy Quân sự Trung ương Chiến trường Việt Nam, công khai tuyên bố nâng cấp chiến tranh. Tình hình leo thang đột ngột, quân đội Trung Quốc xâm nhập qua vĩ tuyến 17, tiến thẳng xuống miền Nam Việt Nam, trong khi đó, Tổng thống Mỹ Johnson bỏ qua động thái của quân đội Trung Quốc.


Ngày 08 tháng 6, tình hình quân sự khẩn cấp, Mỹ gửi thêm quân đến Việt Nam tiếp tục xây dựng một hệ thống phòng thủ tại bờ biển. Mao Trạch Đông không còn che giấu núp sau lưng xác của Hồ Chí Minh, công khai viện trợ vũ khí cho Hồ Chí Minh, mặt nạ gỡ xuống sớm hơn dự định, và Mao tuyên bố chấp nhận thay Hồ Chí Minh khởi sự chiến tranh với Mỹ tại Việt Nam.


Buổi tối lúc 08:30 ngày 09 tháng 6, quân đội Trung Quốc xuất quân từ hướng tây Nam Trung Quốc, tại đèo Hữu Nghị biên giới Bằng Tường, còn có tên gọi Bình Hưng (萍乡) (trước đây là thị trấn Nam Môn (南门) lãnh thổ Việt Nam). Những quân đoàn tiên phong Trung Quốc trang bị vũ khí nặng, quân đoàn phòng không, pháo binh, quân phục vải màu xanh cỏ, giày chiến, trên tay nắm lấy khẩu súng trường sẵn sàng tấn công, trên đôi vai ba lô và vũ khí.


Thời tiết miền Bắc tháng 6 bỗng lạnh buốt, Bộ chỉ huy quân đoàn bất chấp những cơn mưa xối xả, dù binh sĩ than vắn than dài, vẫn tiến quân giữa đêm giá lạnh. Hai hướng hành trình dài của đoàn quân xa, nửa đêm tiến vào hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, một phần quân chuyển qua hướng Đông Bắc Việt Nam đến địa điểm tập kết Quảng Ninh, xuống tàu đổ bộ hướng biển. Tàu chuyên chở vũ khí nặng, khi đến đảo vùng vịnh nhằm lúc nước thủy triều xuống thấp, những con tàu bị mắc cạn, đậu cách cầu đảo hơn trăm mét. Thiếu tướng Lưu (刘), người đứng đầu cán bộ chính trị viên của Sư đoàn 234, có nhiệm vụ phòng thủ vịnh Bắc Bộ, đối mặt Đông với quân Mỹ, tiết lộ:


‒ Chúng tôi đổ bộ ra đảo, ngay lập tức, các sĩ quan và những người lính nhảy xuống, sóng nước biển ngang vai với tay nắm cơ giới, thân lao nhanh lên đảo Khởi Tố (起诉), với khẩu hiệu "quân biển thực hiện trước khi bình minh đến đảo!" Để thích ứng với chiến tranh Việt Nam, quân đội Trung Quốc dùng chiến thuật "hạ cánh" cố ý thực hiện mọi sự chuẩn bị đặc biệt, tạo bất ngờ làm cho quân Mỹ nao núng. Đúng lúc trời sáng, chúng tôi đã xây dựng hoàn thành phòng thủ theo từng nhóm liên kết ba doanh trại, một tiểu đoàn cơ khí, một tiểu đoàn pháo binh phòng không, 85 khẩu pháo, 82 súng cối, có cả truyền tin (通联) và liên kết giao thông vận tải với đường biển.


Quân đội Trung Quốc đã thành lập bộ chỉ huy trên đảo, đúng kế hoạch dự trù chiến thuật hành quân biển, chiến thuật này đáp ứng hành quân cho địa thế đảo ven biển. Ngoài ra còn có đội quân "dưới lều" chuyên xây dựng phòng thủ cho bộ chỉ huy, công sự pháo binh, công sự phòng không, chiến hào, mọi chuẩn bị tiến hành chặt chẽ.


Theo yêu cầu của Việt Nam lập phòng thủ cho chiến tranh dài hạn, chủ yếu xây dựng công sự vững chắc tạo ra tâm lý an toàn chiến đấu, vật liệu nặng bằng xi măng, cốt sắt, thép, gỗ, do quân đội Việt Nam cung cấp, nhiều đảo thiếu cát, đá, và một số đảo không có nước ngọt, được vận chuyển từ đảo lân cận. Áp lực lớn nhất đối với Lữ đoàn hàng hải, phải đảm bảo xây dựng những cơ sở quân đội trước hạn định, họ làm việc ngày và đêm, mưa hay nắng. Ngoài ra, còn có những đoàn truyền vận chuyển vũ khi, cơ giới nặng đến Vịnh Bắc Bộ từ các cảng biển Trung Quốc.


Quân đội Bắc Việt đặt dưới sự chỉ huy của Quốc phòng Trung Quốc, những lãnh đạo quân sự Trung Quốc được ưu tiên làm việc bên trong công sự "đại dương" theo tiêu chuẩn pháo đài kiên cố và vững chắc. Trong vùng đảo còn có những pháo đài thiên nhiên bao quanh bởi vách đá, binh sĩ chia ca giờ, đi tuần tra trên vách đá phải buộc giây cáp vào thắt lưng, nhấn thanh khoan búa treo lơ lửng thân người trên vách. Ở trên những con mòng biển lượn quanh đầu, dưới chân sóng biển lăn tăn, sóng biển ập vào vách đá ầm ầm, những người lính ẩn thân trong khe vách an toàn không sợ bích kích pháo của Mỹ, cũng như binh sĩ lục địa ẩn mình trong chiến hào.


Sau khi kế hoạch phòng thủ hoàn chỉnh, quân đội Trung Quốc bổ sung lực lượng, gia tăng quân số từ đất liền đến hải đảo, cho nên công trình xây dựng vất vả, ngưới lính xây dựng không có ngày nghỉ trải qua nhiều tháng, làm việc ngoài trời tiếp xúc với ánh nắng, tất cả chiến sĩ thợ xây trên khuôn mặt đầy màu khói, da ngăm đen. Chiến binh ở đây đều có kinh nghiệm chiến đấu với Phi Tặc (飞 贼) chuyên cướp biển, họ không phải lo lắng, nhưng bây giờ ở hải đảo không phải môi trường chiến đấu của họ.


Nói đến chiến tranh Việt Nam, chúng tôi được biết nhiều nhờ thông tin hướng dẫn qua chương trình Hoa ngữ của đài phát thanh Hà Nội, có những bình luận không tốt về quan chức miền Nam Việt Nam. Quá nhiều chương trình ca tụng Bác đảng không mang tính quốc gia, và những anh hùng huyền thoại không tưởng, hy sinh vì Bác đảng, những thông tin quân đoàn đóng quân tại những hải đảo phía Đông Bắc, bảo vệ bờ biển và những khu rừng trong lục địa có doanh trại pháo binh Trung Quốc.


Những lãnh đạo chỉ huy đơn vị phòng không, pháo binh Trung Quốc, tiết lộ:


‒ Chúng tôi chan máu xuống đất để giành chiến thắng, chống lại sự kiêu ngạo của các cuộc không kích của Mỹ.


Tháng 8 năm 1965, những quân đoàn pháo binh Trung Quốc (PLA) tổng cộng 63 Sư đoàn nhận lệnh phân bổ lại cấp chỉ huy, thành lập 609 Trung đoàn phòng không với nhiệm vụ chiến đấu chống không kích của Mỹ, cùng lúc bảo vệ các tuyến đường sắt tại Cổng Hữu Nghị, bảo vệ những khu vực xây dựng đường sắt của quân đội Trung Quốc trong lãnh thổ Việt Nam.


Ngày 23 tháng 8, tình cờ 609 trung đoàn phòng không của Trung Quốc, đồng loạt bị máy bay Mỹ ném bom tơi tả.


Các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc phân tích:


"…. Mỹ đánh bom vào trụ sở chính pháo đài phòng không, đánh dấu chiến tranh leo thang khủng khiếp, có thể không kích sẽ bước gần đến biên giới Trung Quốc".


Trong ngày, bộ chỉ huy lập tức ra lệnh Tiểu đoàn 2 pháo binh của Trung đoàn 214, do Thiếu tá Trịnh Ngọc Sơn (郑玉山) dẫn đầu chuyển quân nghi binh với địch quân. Trịnh Ngọc Sơn được lệnh chuyển quân đến Lạng Sơn, cả đêm không có một chớp mắt để ngủ, vừa đến Song Cầu tìm gấp vị trí xây dựng chiến lũy. Trịnh Ngọc Sơn (郑玉山) tiếp nhận được lệnh của Quân ủy Trung Quốc, ban hành hướng dẫn "các đơn vị pháo binh kiên quyết chiến đấu, hãy thử một trăm cú đánh cực mạnh, chúng ta phải chiến đấu để chiến thắng, hiệu suất của người dân ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Mỹ, quý đồng chí thực hiện chủ nghĩa anh hùng cứu nước, được thành lập bởi Chủ tịch Mao, phản ánh quân đội nhân dân chống lại sức mạnh Mỹ".


Tháng sau, cuộc chiến mỗi ngày dữ dội. Bầu trời như thể sân bay riêng của Mỹ, tưởng đâu bom nổ ầm ầm trên đồng vắng. Thiếu tá Trịnh Ngọc Sơn ra khỏi giao thông hào xem hướng kẻ địch đánh bom, trên người ngụy trang lá cây xanh, bỗng ánh sáng (bom chùm) mặt trời đốt cháy cả thân người cuộn tròn khô héo. Đơn vị phòng không tiểu đoàn 126 cách 2 km đứng trên đồi đất cao tầm nhìn thu nhỏ, quan sát không chính xác, nhìn thấy mảnh bom rơi từ máy bay Mỹ không trúng mục tiêu, họ lý giải:


‒ “Người Mỹ xảo quyệt, bom của chúng có thể thoát khỏi tầm mắt, hay là chúng ta đánh giá sai. Do không am tường hướng máy bay Mỹ, cho nên không nắm vững trái bom đến mục đích!” Thực ra bom đã đến trước mục tiêu, còn vỏ của bom rơi sau trên đồng vắng, đó là qui luật thả vỏ bom tự nhiên, lần đầu tiên họ tiếp cận không lực Mỹ, khó định hướng khi máy bay không kích.


Trận chiến đối không của Trung Quốc hoàn toàn đưa đến thất thủ, binh sĩ chỉ biết đứng lặng người chiêm ngưỡng bấu trời, từ không gian đã nghe được tiếng không khí của một số máy bay Mỹ từ xa nhào xuống, tiếp theo hàng loạt máy bay cũng gầm lên những tiếng vang động liên hồi của bom, "Bùm!" "Bùm!". Lửa khói ngút trời, máy bay Mỹ trên không trung, rẽ cánh tạo thành đường bay bông hoa nở, tan biến vào không gian để lại bầu trởi xanh vắng lặng.


Bây giờ sĩ quan phòng không Trung Quốc, mới định hướng máy bay Mỹ đến từ góc phía Tây Nam của Sông Cầu. Bộ chỉ huy lấy quyết định: "Truyền lệnh, bật lửa, nhắm mục tiêu, dương cao khung giá pháo phòng không, hy vọng đốt cháy vài máy bay Mỹ".



F-105 "Bàn tay sắt", cất cánh từ tàu sân bay USS Richard, ném bom bằng radar, sẵn sàng tấn công các điểm nóng miền Bắc Việt Nam. Nguồn: Không quân Hoa Kỳ.



Ngày 05 tháng 10, một lần nữa máy bay Mỹ tấn công Song Cầu, đầu tiên thấy một lô hàng F-4 ở độ cao, tiếp cận từ hướng Tây Nam, phòng không Trung Quốc rút ra kinh nghiệm kịp thời đốt pháo để nắm bắt cơ hội hy vọng bắn chúng rơi xuống. Bốn máy bay Mỹ F-105 kín đáo tấn công từ phía Đông Bắc, ngay lập tức bộ chỉ huy phòng không Trung Quốc ra lệnh chuyển đổi hỏa lực, tập trung chơi chuyến hàng đầu tiên, khung pháo thứ hai, thứ ba, bắn hạ một vỏ đạn, lửa chụp vào bốc cháy, đã bắn đến 6 lần lô hàng F-4 đi qua, vẫn không được chiến thắng, một giờ sau đó có lô hàng mới, F-4 nghinh chiến, quân Trung Quốc đem hết hỏa lực phòng không hạ được một F-4, bắt sống sĩ quan phi công Hoa Kỳ đang lúc bị thương. Trung Quốc ca khúc chiến thắng. Theo báo cáo trong ngày quân đội phòng không của Trung Quốc thiệt hại 2.436 binh sĩ, trên 416 cao xạ phòng không bị loại ra khỏi vòng chiến, 142 cao xạ phòng không mất tác dụng 50%, trên 42 doanh trại bị bom thiêu hủy hoàn toàn, đơn vị phòng không Lạng Sơn được xem thất thủ.


Kết quả, tính theo thời giá kinh tế 200.000 nhân dân tệ đổi lấy 1 đô la, Trung Quốc muốn bắn rơi một máy bay F-4 của Mỹ phải trả giá 2.436 binh sĩ, 416 cao xạ phòng không, 142 súng phòng không mất tác dụng 50%, 42 doanh trại, và  hơn 70.000 đạn pháo. Trung Quốc phải chi ra một giá đắt đỏ cho chiến tranh Việt Nam, thiệt hại như trên chỉ thu về một F-4 phế thải, bắt một sĩ quan của Mỹ làm tù binh. Chứng tỏ chiến trường Việt Nam là nơi tiêu biểu cho cuộc chiến giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.





Trung Quốc đã đưa quân vào Việt Nam hỗ trợ một số lượng lớn pháo binh để bảo vệ không phận. Và tiểu đoàn phòng không đặc nhiệm Sam 15, tên lửa chống máy bay tại miền Bắc Việt Nam, điều khiển bởi radar, mã Nato SA-2 (S-75-防空飞弹). Nguồn: Tình báo Hoa Nam.



Đơn vị phòng không Bắc Ninh cách trung tâm Hà Nội 30 km, đặt trong tình trạng chiến tranh cơ động, trong vòng 3 tháng đã chiến đấu với không quân Mỹ 17 lần. Hành trình cơ động trên 31.000 km, trong đó có 9 lần chiến đấu, bắn rơi 7 chiếc máy bay Mỹ, và làm bị thương bốn phi công Mỹ. Thật không may pháo đài Bắc Ninh bị bom Mỹ phá hủy hoàn toàn, người đứng đầu Trung tá Phong Thú (风趣) bị tử thương, tính đến ngày 07 tháng 10, phòng không Trung Quốc thiệt hại tương đương pháo đài Lạng Sơn.



Từ tháng 8 năm 1965 đến tháng 3 năm 1969



Trung Quốc bổ sung ào ạt quân số pháo binh, tổ chức lại chiến lược phòng thủ, thành lập thêm 16 Sư đoàn phòng không, tách rời 63 Sư đoàn phòng không chuyển đến đồng bằng sông Hồng Bắc Ninh, phối trí lại 3 bộ chỉ huy Bắc Ninh, bộ chỉ huy phòng không Cao Bằng, Lạng Sơn và phòng thủ những trung tâm quân sự tại biên giới. Bộ chỉ huy hướng Nam phòng thủ Hà Nội, lực lượng pháo binh tiếp tục tăng cường sĩ quan chuyên nghiệp, phát huy vượt trội sức mạnh với chiến thuật linh hoạt, cung cấp thiết bị vũ khí, đặc biệt ủy ban nghiên cứu vũ khí thẩm định vũ khi quân ta đã lỗi thời.


Trung Quốc nhận ra ưu thế không quân, khẩn cấp trang bị máy bay đưa vào chiến trường Việt Nam. Trung Quốc tăng quân số bộ binh lên khoảng 1,6 triệu binh sĩ, cùng thời điểm quân đội Mỹ tham chiến tại miền Nam Việt Nam với quân số 350.500 binh sĩ.


Tổng kết sơ khởi, 3 năm và 7 tháng (1965-1969), Không quân Hoa Kỳ có 558 phi vụ, thiệt hại 227 máy bay. Trung Quốc thiệt hại 653 máy bay, 479 sĩ quan phi công thương vong, 75.280 binh sĩ phòng không tử trận, 23.166 Cao xạ phòng không loại ra khỏi vòng chiến, phá hủy 542 doanh trại, trên 8 tuyến đường sắt bị bom đánh cuốn đường ray, sử dụng trên 1.690.000 đạn cao xạ phòng không.


Quân lực Trung-Việt liên kết ôm nhau tình hữu nghị, Hồ Chí Minh-Mao Trạnh Đông hạ quyết tử trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Dân-quân Việt Nam Cộng Hòa quyết tâm chống Cộng, tấn công qui mô vào quân du kích, quân chính qui Bắc Việt, đem đến thiệt hại nặng nề cho Mặt trận Giải phóng miền Nam, đưa đến tình trạng khan hiếm vũ khí, đường thủy và đường mòn Hồ Chí Minh thất thủ liên miên. Những đường vận chuyển vũ khí, lương thực vào Nam hầu như bị bít lối, gần như kiệt quệ mọi nguồn cung cấp, trở nên khó khăn, một số lượng lớn vũ khí, thiết bị quân sự do Trung Quốc viện trợ không đến tay du kích, quân chính qui Bắc Việt.


Trung Quốc hối hả thiết lập chiến thuật 2 (biển người) muốn phong toả, giải vây đường mòn Hồ Chí Minh và đường Biển, giành lại đường vận chuyển huyết mạch, tuy không hoàn toàn phong tỏa được những qui định chiến trường, nhưng ít nhất đã tiếp tế được một số lượng lớn vũ khí, lương thực và y tế, đặc biệt về gạo, Trung Quốc thiết kế bao bì nhựa bơm hơi, dùng phao nổi kết thành bè không cho chìm xuống biển, áp dụng thủy triều định hướng địa điểm cho trôi dạt vào bờ biển, sau đó thông báo cho những lực lượng vũ trang, du kích đến điểm hẹn cửa sông hay ngoài khơi tiếp nhận, gạo sẽ được vận chuyển về căn cứ. Trung Quốc đánh giá vận chuyển vũ khí bằng đường biển đạt hiệu năng cao, không muốn bị thất thoát bằng cách giả dạng cá voi chuyển vũ khí vào bờ do người nhái phụ trách. Thuyền 3 đáy cũng là phương tiện chuyển vũ khí, sau khi quân du kích nhận được số lượng lớn vũ khí và thiết bị lập tức phân tán mỏng, chuyển đến cơ sở mật khu. Chưa kể, có một số tàu buôn lợi dụng chiến tranh Việt Nam bán vũ khí ngoài khơi hải phận quốc tế. Trung Quốc và Liên Xô trực tiếp điều động vận chuyển vũ khí xâm nhập vào miền Nam Việt Nam cũng bằng đường biển. Tuy nhiên dân quân VNCH không thể làm ngơ để cộng sản tự do tung hoành, đường biển trở thành nơi điểm nóng, VNCH cảnh giác, kiểm soát nghiêm ngặt, khám phá rất nhiều tàu Trung Quốc và Liên Xô xâm nhập hải phận bất hợp pháp. Không quân VNCH chọn chiến trường biển miền Trung như Đà Nẵng, Quảng Ngải, Qui Nhơn, Bình Định, Khánh Hoà làm nghĩa trang chôn vùi dưới đáy biển những xác hạm đội quốc tế cộng sản.


Ngoài ra Trung Quốc còn sử dụng đảo Hải Nam và lục địa tỉnh Quảng Tây làm kho chứa hàng viện trợ, cung cấp vũ khí cho Hà Nội, cũng là trạm trung chuyển cung cấp đáng kể nhất cho du kích tại miền Nam. Trường hợp này do tàu tuần duyên Mỹ kiểm soát, đôi khi máy bay trực thăng Mỹ lơ lửng trên không thám thính.


Trung Quốc-Liên Xô không dễ dàng xâm nhập vào vùng biển thuộc chủ quyền của VNCH, Cộng sản đành phải thành lập căn cứ trung chuyển 3, tại bên kia bờ Bắc, sông Bến Hải ở vĩ độ 17 độ, gần đường lộ làm kho chứa hàng viện trợ, bởi nơi này là biên giới Bắc-Nam thuận lợi cho việc tiếp tế, Trung Quốc-Liên Xô vận chuyển bằng máy bay với kỹ thuật cầu không vận.
Đôi khi gió mạnh những kiện hàng vũ khí, lương thực bay qua bờ Nam thuộc vùng đất của VNCH, cũng có lúc những kiện hàng rơi xuống giữa dòng sông, gồm súng phòng không, đạn dược, gạo và một số thực phẩm bao bì thiết kế bơm hơi, trôi lềnh bềnh dọc theo rìa sông phía Nam Bến Hải.





Sông Bến Hải (Rào Thanh) cầu Hiền Lương, nối hai bờ Nam-Bắc tại vĩ tuyến 17 độ. Sông có tổng chiều dài chừng 100 km, nơi rộng nhất khoảng 200 mét, ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị. Nguồn: Tư liệu Không quân VNCH.



Với sự gia tăng xâm lược của quân đội Trung Quốc tại miền Bắc Việt Nam, liên tục mở rộng cuộc chiến quy mô, đưa quân tiến sâu vào miền Nam. Đồng thời du kích Mặt trận Giải phóng mở rộng liên kết với tình báo Hoa Nam (cụm thương mại) người Hoa tại miền Nam, có tên gọi "hỗ trợ quân", chính những cụm Hoa Nam này cung cấp vũ khí cho lực lượng vũ trang Mặt trận Giải phóng miền Nam, một lượng lớn vũ khí trong nội địa. Họ mua được từ những tên tướng nằm vùng trong quân lực Việt Nam Cộng Hoà và lương thực mua từ những vựa lúa người Hoa.


Bỗng một ngày du kích được trang bị vũ khí nặng, và lập những tổ khủng bố Sài Gòn, Chợ Lớn. Nhờ tình báo Hoa Nam và cơ quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài địa chỉ đường Cống Quỳnh Sài Gòn (không trực thuộc Tòa Thánh Tây Ninh) một tổ chức đội lốt tôn giáo lập ra cơ sở Việt Cộng miền Nam nằm vùng, tạo điều kiện cho quân Việt Cộng nhanh chóng phát triển nội thành Sài Gòn đến mật khu miền Nam, đo đó, Việt Cộng lấy lại vị trí chiến lược ngoại ô và nội thành Chợ Lớn, Sài Gòn. Việt cộng đặt lại vấn đề cấp bách về lương thực nuôi quân từ đâu đến? Tạm thời vận tải đường biển không thể giải quyết một mình.





Bản đồ đường biển Hồ Chí Minh, vận chuyển vũ khí lương thực từ Vịnh Bắc Bộ Quảng Ninh Việt Nam, vịnh Sihanouk Campuchia, đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc. Nguồn: Bộ quốc phòng Trung Quốc. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.





Tàu vận chuyển vũ khí của Trung Quốc cải dạng tàu buôn nước ngoài, chở vũ khí vào chiến trường miền Nam, cập vào những tỉnh Đồng Tháp Mười, Bến Tre, Cà Mau, Hồng Ngự, Trà Vinh, Lộc An Bà Rịa-Vũng Tàu, nơi nào cũng có dân quân chuyển tải vũ khí bằng trâu, bò, ghe, xuồng vào tận bưng biền hay ra tiền tuyến, có những chiếc ghe chở 10 tấn vũ khí từ vịnh Bắc Bộ vào chiến trường QK8. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.



Năm 1968 (Mậu Thân), chính Trung Quốc-Liên Xô đã thất trận thảm hại tại miền Nam Việt Nam, nay Trung Quốc dốc hết toàn lực thành lập quân đoàn vận tải đường bộ do tướng Từ Bôn Trí (斯奔驰), phụ trách chuyển vũ  khí và lương thực từ Trung Quốc đến tận miền Nam Việt Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh.





Ngày 21 tháng 2 năm 1965, Trung Quốc chuyển tải vũ khí bằng đường biển, những con tàu mang ký hiệu không số, cập bến Vũng Rô Miền Trung, viện trợ vũ khí vào Khu 5. Không quân VNCH phát hiện, đánh bom cho chìm xuống đáy biển. Nguồn: Tư liệu Không quân VNCH.



Trung Quốc giải quyết được vấn đề lương thực và vũ khí, Đảng Cộng sản Việt Nam, chính phủ Bắc Việt Nam được hả hê một ít. Trung Quốc tiếp tục mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh qua những dãy núi khu vực hẹp trong lãnh thổ Lào, đến miền Nam Việt Nam và Campuchia, lúc đầu đường mòn chỉ đủ xe đạp, xe đẩy, xe tay ga và voi di chuyển, dần dần mở rộng, quân vận di chuyển thong dong. Đặc biệt bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh với quân số trên 600.0000 nghìn quân Trung Quốc, phối trí vũ khí nặng, súng pháo, cao xạ, phòng không.


Sau năm 1965, hơn 10 triệu quân Trung Quốc đã vào chiến tranh miền Nam Việt Nam, nhờ vậy miền Bắc rảnh tay, triển khai quân đội hành quân qua Lào và tiến quân xâm nhập miền Nam Việt Nam, cơ sở hậu phương đã vững chắc, nhu cầu chiến tranh cần mở rộng thêm đường mòn Hồ Chí Minh. Trung Quốc trực tiếp xây dựng đường Trường Sơn, với số quân 10 triệu, kiều lộ ầm ỳ những xe chân rít, xe sâu nái, xe kéo, xe xúc, thuốc nổ (第一汽车-Đệ nhất khí xạ) ngày đêm phá rừng, một mặt huấn luyện quân giải phóng (解放) miền Nam Việt Nam. Xây dựng đường Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) do tướng Mai Tái Đức (梅赛德) phụ trách, dưới sự huy động của Quân uỷ Trung ương (CPC) Trung Quốc.








Điểm đứng đường mòn Hồ Chí Minh tại ngã ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ, đi vào khu rừng già Hạ Lào, song song với con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên quốc lộ 9. Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn, xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu, ... trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một địa danh nổi tiếng trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ II (1960-1975), được một ký giả ngoại quốc chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn thấy xác bộ đội Bắc Việt bị banh thây bỏ lại tại chiến trường, vì bom đạn phi pháo, nên đã đặt là Hamburger Hill. Tại đây, đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau. Nơi này Hà Nội chọn làm bàn đạp tập trung bộ đội, để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẵng. Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên, đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum... trước khi rẽ ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet, Dakto... Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua Trại Lực Lượng Đặc Biệt Ðức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây, đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk, với nhiều mật khu như 702, 701, 740, 203, 351, 350 và 400. Trên đất Miên, đường mòn có một nhánh rẽ nữa vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên. Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và Ðông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt, khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu câu của chính phủ Lonnol, cho nên tiêu diệt gần như toàn bộ những mật khu của Bắc Việt tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long.


Ngày 27 tháng 5 năm 1967, đơn vị phòng không của Thượng tá Trương (张) chỉ huy Sư đoàn pháo, đóng quân tại vùng đất cao Lạng Sơn. Dùng địa thế chống lại máy bay B-52. Trong tháng chiến đấu trên 6 lô hàng F-105 mỗi lô 20 máy bay, đánh phá thiêu hủy toàn bộ doanh trại vùng cao, tại trung tâm pháo đài, phòng điều hành chiến thuật bị thiêu hủy.  Thượng tá Trương nhận được lệnh không thể bỏ pháo đài. Vì sự sống còn Trương nhảy ra khỏi bản doanh với một chân, chạy hơn 780 mét trong mương giao thông hào. Tuy nhiên vẫn còn một vị trí trung tâm thường trực tiếp tục chỉ huy cuộc chiến chống lại kẻ thù, nhưng họ không an tâm vì quá sợ hãi.





Những chuyển vận trên đường mòn Hồ Chí Minh xảy ra hằng ngày, tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng, từ Bắc vào Nam của Trung Quốc và Cộng sản Hà Nội, đối với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm, vì những gì xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động, gần như biết toàn bộ. Nguồn: Tình báo Hoa Nam.



Trong tuần tháng 5, xuất hiện 4 lô hàng F-4 tấn công khốc liệt, trong đó có tám trường hợp bom chùm phát nổ ở vị trí pháo đài, chánh trị viên Sư đoàn Trung tá Vạn (万) bị thương trước ngực và cánh tay phải, vài ngày sau cùng 234 đồng đội tử vong.


Ngày 5 tháng 7 năm 1967. Thượng tá Trương (张) liên kết những đơn vị còn lại, tự chỉ huy, phối trí từng nhóm phòng không, gồm nhóm 1 đến nhóm 15, mỗi nhóm có 8 pháo thủ chiến đấu, một quả bom chùm đã hạ cánh xuống giữa hai chân hàng đại pháo, nổ tung, toàn bộ binh sĩ Trung Quốc thiệt mạng, nhóm pháo 15 và nhóm 5, bảo vệ đồng đội, phi thân nhảy vào bảo vệ đại pháo phòng không, đồng chơi cảm tử lấy hai chân kẹp vào pháo, kết quả không bảo vệ được pháo, bị bom thổi bay những thân thể biến mất để lại những đôi chân trần trụi trên xác đại pháo, đĩa súng phòng không dính máu quốc tế cộng sản. Trong trường hợp này Thượng tá Trương (张) trở lại pháo đài vẫn ngồi theo thế cũ, trên ụ đất tiếp tục chiến đấu cho đến giọt máu cuối cùng.


Tháng 3 năm 1968, những phi vụ đánh bom miền Bắc Việt Nam "leo thang" phạm vi ném bom được giới hạn khu vực phía Nam vĩ độ 20 độ dòng Bắc, người dân Mỹ áp lực buộc chính phủ phải dừng lại.


Ngày 10 tháng 3, những quốc gia tham chiến tại Việt Nam bắt đầu chấp nhận mở hội nghị đàm phán hòa bình, họp tại Paris.


Ngày 31 tháng 10, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố: "Chấm dứt hoàn toàn ném bom miền Bắc Việt Nam, và pháo kích của hải quân". Giai đoạn này Trung Quốc và Liên Xô vận động ngoại giao trong khối Quốc tế cộng sản hỗ trợ cho Bắc Việt, ngoài ra Trung Quốc và Liên Xô lợi dụng thời điểm đình chiến, âm thầm tiếp tục hỗ trợ cho quân đội Bắc Việt.


Tháng 7 năm 1970, tại Paris, Trung Quốc hứa sẽ rút hết quân đội ra khỏi Nam Bắc Việt Nam. Trung Quốc hứa bằng miệng không đi vào thực tế, dù đã ký vào quy ước chiến tranh trước quốc tế. Nhờ thời điểm này quân Bắc Việt phối trí lại, bổ sung quân đội và củng cố lực lượng Mặt trận Giải phóng miền Nam. Chính người Cộng sản thiếu lương thiện không muốn hòa bình, thừa dịp đẩy miền Nam Việt Nam vào khói lửa.


Hơn 7 năm quân đội Trung Quốc tham chiến tại Việt Nam, hỗ trợ quân Bắc Việt lớn mạnh, xây dựng cơ sở hạ tần vững mạnh, có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu chiến tranh, từ lúc khó khăn cho đến lúc đầy đủ phương tiện chiến đấu, Trung Quốc đã thực hiện một kỷ lục tham chiến "tuyệt vời" (theo ngôn ngữ Việt cộng). Trong quân sử Trung Quốc tự cho phép mình có quyền lấy quyết định chiến tranh độc đáo, có một không hai tại Việt Nam. Nhóm kỹ thuật quân đội Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam, báo cáo trước Quân ủy Trung ương (CPC) Trung Quốc, theo hồ sơ, đã xây dựng hơn 125.600 mét chiến hào, hơn 2.300 công sự khác nhau, xây dựng mới và cải tạo quốc lộ 7, dài hơn 430 km. 217 km đường sắt mới, xây dựng lại 1.363 km đường sắt, lấp xây cầu 198 km; xây dựng 1 sân bay, xây dựng 2 nhà chứa máy bay; lắp điện thoại cố định hơn 1.560 km; lắp đặt cáp thông tin liên lạc tiềm thủy đĩnh hơn 190 km.


Ngày 02 tháng 9 năm 1969, cái chết của Hồ Chí Minh đưa đến sự chia rẽ Trung-Xô, đánh dấu sự tan rã Quốc tế vô sản và xã hội chủ nghĩa từng quốc gia. Một phần do các nhà lãnh đạo Cộng sản Việt Nam thấy được âm mưu của Trung Quốc muốn thanh trừng Lê Duẩn để rồi cướp lân bang. Cấp lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã biết quá nhiều về Hồ Chi Minh, họ biết rõ đương sự là ai, quan hệ thế nào với Trung Quốc. Vì nguyên nhân sâu xa đó, Lê Duẩn đưa Cộng sản miền Bắc dần dần xa Hồ-Mao. Việt Nam thân Liên Xô vẽ lên vết nứt đối với Trung Quốc. Năm 1975, cuộc chiến tranh Việt Nam thực sự kết thúc. Trung Quốc không hài lòng Lê Duẩn đã ra lệnh cho bộ phận tình báo Hoa Nam ngưng mọi viện trợ, nguồn cung cấp vũ khí phải trả với giá cao. Việt Nam không còn mong đợi "tình đồng chí, tình anh em", giờ này quan hệ họ hàng Trung Quốc và Việt Nam đã quay lưng lại với nhau, do đó Trung Quốc đòi lại nợ chưa trả bằng cuộc chiến ngày 17 tháng 2 năm 1979. Chiến tranh Trung-Việt khởi sự từ lúc Hồ Chí Minh xuất hiện tại Việt Nam.


Trung Quốc sơ kết viện trợ vật chất cho Việt Nam không qui định thành tiền.


Trước năm 1940 khi Hồ Chí Minh chỉ là một tay vô danh tiểu tâm (1940年以前,当胡志明匿名的副中心- Niên dĩ tiền đương Hồ Chí Minh 胡志明nặc danh đích phó tiểu tâm). Đảng cộng sản Việt Nam là của Trung Quốc, chính vì vậy họ đã viện trợ cho đảng CSVN lâu dài nhất trong lịch sử. Trung Quốc đầu tư lớn nhất từ năm 1950 trở đi, thực hiện toàn diện viện trợ thiết thực cho Việt cộng. Ngoài ra Trung Quốc còn xây dựng cơ sở trọng yếu công nghiệp quốc phòng cho Việt Nam. Trung Quốc vận dụng mọi khả năng của mình để cung cấp vũ khí, thiết bị kỹ thuật.



Trung Quốc tổng kết sơ bộ viện trợ cho chiến tranh Việt Nam.



‒ Năm 1940-1955: 270.000 khẩu súng đủ loại, 3.000 khẩu pháo binh, 400 triệu viên đạn, 920.000 đạn pháo, 120 xe bọc thép, 10.000 động cơ điện, 3.000 vô tuyến điện, 900 xe ô tô, 110 xe tăng, 18 tàu chiến Hải quân, 18.240 tấn thuốc nổ, 1.140.000 bộ quân trang.


‒ Năm 1956-1961: 470.000 khẩu súng đủ loại, 20.000 khẩu pháo binh, 600 triệu viên đạn dủ loại, 2.020.000 đạn pháo, 420 xe bọc thép, 15.000 động cơ điện, 5.000 vô tuyến điện, 2.500 xe ô tô, 163 xe tăng, 25 máy bay tiêm kích, cường kích và ném bom, 68 tàu chiến Hải quân, 218.240 tấn thuốc nổ, 2.180.000 bộ quân trang.


‒ Năm 1962-1964: 390.000 khẩu súng đủ loại, 2.466 khẩu pháo binh, 220 xe bọc thép, 363 xe tăng, 21.030.000 triệu viên đạn, 1.500 xe ô tô, 15 máy bay tiêm kích, cường kích và ném bom, 418.240 tấn thuốc nổ,  3.176.400 bộ quân trang.


‒ Năm 1965-1975: 2.778.000 súng khác nhau, 763 xe tăng, 60.000 đại pháo binh, 60 tỷ viên đạn, 25.970.000 đạn pháo, 176 tàu thủy, 552 tàu thủy vừa lội nước, 620 xe bọc thép, 270 máy bay tiêm kích, cường kích và ném bom, 31.000 xe ô tô, 118.240 tấn thuốc nổ, 65.000 động cơ điện, 35.000 vô tuyến điện, 11.170.000 bộ quân trang.


Việc Trung Quốc viện trợ cho đảng Cộng Sản Việt Nam đã được phản ánh trên báo chí đảng và Quân uỷ Trung ương:


-Trước năm 1968, Trung Quốc viện trợ cho cơ sở cộng sản miền Nam Việt Nam 3.660 máy vô tuyến điện, 3000 cuốn sách học thuật xã hội vô sản, 5 Trung đoàn thiết bị tên lửa phòng không, 1.170.000 bộ quân trang.


Báo chí còn cay đắng loan tải: Trung Quốc không phải là nơi chứa hàng tồn kho của Việt Cộng, không thể muốn sử dụng lúc nào cũng được, thậm chí Hồ Chí Minh còn xin triển khai thiết bị để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết tại Việt Nam.


Trong một thập kỷ (1965-1975) chiến tranh tại Việt Nam, lăng kính quốc tế cho rằng: Trung Quốc-Hoa Kỳ đối đầu với nhau bởi ý thức hệ cộng sản và tư bản. Đến năm 1965 Liên Xô nhảy vào tham chiến tại Việt Nam, từ đó Bắc Việt nhận nhiều nguồn viện trợ của khối cộng sản quốc tế, như Liên Xô và các nước Đông Âu, viện trợ Bắc Việt trên 630.000 tấn hàng đủ loại. Trung Quốc nhận vận chuyển cho Bắc Việt miễn phí, nếu tính thành tiền Bắc Việt phải trả 83 triệu nhân dân tệ. Ngày 20 tháng 11 năm 1977, Tổng bí thư Trung ương Đảng Lê Duẩn tuyên bố: "Người dân Việt Nam sẽ không bao giờ quên bài phát biểu của Chủ tịch Mao Trạch Đông với tình thần công chính. 700 triệu nhân dân Trung Quốc ủng hộ mạnh mẽ đối với nhân dân Việt Nam, đất nước rộng lớn của Trung Quốc lãnh thổ phía sau Việt Nam đáng để nhân dân Việt Nam tin cậy." (越南人民永远不会忘记毛泽东主席情至义尽的讲话 :七亿中国人民是越南人民的坚强后盾,辽阔的中国领土是越南人民的可靠后方.)


Ngày nay tình thế đã khác xưa, thế giới thay đổi nhiều từ suy nghĩ đến sinh hoạt. Mỗi cá nhân là thành tố của vận mệnh quốc gia, nhân loại đã đi vào hành trình sáng tạo xã hội dân sự và đất nước cần có Dân Chủ Đa Nguyên, đi chung lộ trình tiến bộ khoa học, đưa từng cá nhân hợp đồng với nhau, xây dựng thế giới, thực hiện quyền sống làm người. Trào lưu xây dựng xã hội văn minh và khoa học ngày nay không có chỗ đứng cho những kẻ tàn bạo chỉ muốn gom trăm mối tiền-quyền vào một cá nhân.


Sau ngày 30/4/1975, nhân dân Việt đã có mặt khắp nơi trên thế giới, tạo ra nhiều luồng suy tư thông thoáng. Họ cho rằng đất nước Việt Nam phải thay đổi mạnh mẽ theo nguyện vọng của nhân dân, thậm chí nhân loại cũng đã lên tiếng: Việt Nam phải hoàn toàn thay đổi, mới có cơ may vươn mình qua khỏi sự suy thoái của đất nước. Đứng trên bình diện quốc gia, Việt Nam đã mất vị trí tính năng động trong vùng Đông Nam Á, thậm chí biển Đông và cả vùng biển trong thềm lục địa cũng không còn thuộc chủ quyền Việt Nam!


Việt Nam cần phải trở mình, đó là điều tất yếu, phải đến gần với thế giới Dân Chủ Đa Nguyên, con đường đúng đắng nhất để cằm lấy hướng tương lai. Người dân có quyền lấy quyết định phán quyết sa thải những khả năng hèn kém trong quá khứ đã từng xoáy mòn lãnh thổ, lãnh hải đưa đất nước điêu linh lùi trở lại đồ đá. Nhân dân nên tìm hiểu dấu vết mã tấu của đảng cộng sản vào một thời hung hăng, nhân dân cần thấu triệt những hồ sơ đảng cộng sản Hồ Chí Minh bán nước cho Trung Quốc, nhận diện lại một chế độ không còn giá trị nữa, bởi nó đã "hèn với giặc ác với dân", bởi nó không phải hướng đi "dân tin đảng và đảng tin dân". Nhân dân không cho phép nước Việt biến thành một nhà tù vĩ đại, càng không thể tự cho "đảng Cộng sản vẫn coi mình là ân nhân của dân tộc và dó có độc quyền quyết định số phận của dân tộc". Chỉ có những kẻ phản bội Tổ quốc Việt Nam mới có suy nghĩ điên rồ như vậy. Bảy mươi bốn (74) năm qua đã đủ quá rồi (1940-2014). Phải trả lại đất nước cho nhân dân, vì đất nước này đã từng thấm xương máu của bao nhiêu thế hệ để cấu thành nước Việt Nam hôm nay.


Ngày nay, nhân dân nhất định cất lên tiếng nói, giành lại quyền sống làm người của mình, không còn im lặng như trước đây, dù kẻ thù cản trở bước chân đi của dân tộc vẫn phải vượt qua đứng lên vì tương lai Việt Nam.


Chúng tôi chỉ muốn đóng góp một phần nhỏ trong tiến trình dân chủ, công bố những tư liệu này, tìm hiểu và tiết lộ mọi sự thật về Hồ Chí Minh và đảng cộng sản. Tư liệu đang nằm trong tình trạng mạch nước rõ rỉ và dĩ nhiên lâu ngày ắt phải thấm đất ướt sâu. Hy vọng sẽ chảy mãi không cạn nguồn sự thật đã hơn 74 năm cấm kỵ mà người dân không được biết đến. Chúng tôi tin rằng nhân dân Việt khó chấp nhận kẻ phản bội Tổ quốc lại tự do sống nhởn nhơ trong nhà Việt Nam. Nhân dân Việt Nam hãy bừng tỉnh đừng để tối mặt. Thế hệ trẻ vì tương lai của đất nước hãy nhận diện kẻ thù từ đây. Lịch sử luôn luôn công bằng phán xét, đưa lên bàn mổ tính sổ từng tội ác. Tìm lại quyền sống làm người cho dân tộc, đem lại mọi sự tái tạo mới cho đất nước Việt Nam nhân bản hơn.


(Còn tiếp kỳ 14)
Huỳnh Tâm



* Người viết bài này tặng đảng Cộng Sản và kính biếu nhân dân Việt Nam những tấm ảnh lịch sử của "Bác Hồ".

Tuesday, August 5, 2014

Hạt giống đỏ trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng XI

Subject: Truyền Thống Gia Đình Trị Trong Đảng Cộng Sản VN
 
 

 1

1* Hạt giống đỏ trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng XI

 Ngày 18-1-2011, một danh sách gồm 175 Ủy viên chính thức và 25 Ủy viên dự khuyết của Ban Chấp Hành Trung Ương (BCH/TW) đảng CSVN khoá XI được công bố. Báo chí không được tham dự kết quả kiểm phiếu cho nên không biết số phiếu tín nhiệm của mỗi ủy viên là bao nhiêu, và danh sách được xếp theo thứ tự ABC.
 
Trong BCH/TW mới, có những người được gọi là “hạt giống đỏ” là con cháu của các lãnh đạo đảng như sau:
1. Nông Quốc Tuấn. Con Nông Đức Mạnh
2. Nguyễn Thanh Nghị, con Nguyễn Tấn Dũng
3. Nguyễn Chí Vịnh, con Nguyễn Chí Thanh
4. Phạm Bình Minh, con Nguyễn Cơ Thạch
5. Trần Sỹ Thanh, cháu Nguyễn Sinh Hùng
6. Nguyễn Xuân Anh, con Nguyễn Văn Chi
7. Trần Bình Minh, con Trần Lâm
8. Nguyễn Thị Kim Tiến, cháu ngoại cố TBT Hà Huy Tập.
Các đảng Cộng Sản Trung Hoa, Bắc Hàn, Cuba cũng có truyền thống cha truyền con nối nầy, rõ nét nhất là Bắc Hàn.
Nhiều ý kiến cho rằng, chế độ CS là tổng hợp của chế độ phong kiến cha truyền con nối, với các chế độ độc tài khác, cho nên CS là một chế độ độc địa hơn hết, hơn cả rắn hổ mang nữa.
Các lãnh đạo đảng chia nhau nắm hết guồng máy cai trị quốc gia. Mỗi gia đình chia làm hai nhóm, nhóm nắm kinh tế, nhóm nắm quyền lực chính trị. Quyền lực bảo vệ để độc quyền kinh tế, kinh tế làm giàu cho quyền lực, như vậy là đầy đủ và an toàn hơn hết.
Rồi các gia đình lại kết thông gia với nhau, tạo thành một đại gia đình gồm dòng họ 4 bên, bên nội, bên ngoại, bên vợ, bên chồng, cứ thế mà nhân ra, thì các đại gia đình nắm trọn quyền lực về chính trị và kinh tế. Trung tướng CA Nguyễn Đức Nhanh kết thông gia với Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn, Lê Thanh Hải là em rể của Trương Mỹ Hoa, làm suôi với Huỳnh Ngọc Sỹ, ăn chia nhịp nhàng, đoàn kết bảo vệ nhau, bảo vệ đảng, hạ cánh an toàn khi có biến.


 2* Gia đình trị
 Hầu như ai ai cũng biết Nông Đức Mạnh là con vô thừa nhận, tức là con rơi của Hồ Chí Minh, thế rồi cháu nội của bác, là Nông Quốc Tuấn sẽ tham gia, nối tiếp lãnh đạo đất nước.
Những hạt giống đỏ sẽ tiếp nối cha ông, nắm quyền cai trị 86.6 triệu người Việt Nam.
Ở Bắc Hàn, thái tử miệng còn hôi sữa, chưa đi lính ngày nào, thế mà đùng một cái, nhảy lên làm tướng 4 sao cai trị nhân dân. Tây phương gọi là “thái tử đảng”.
  1. 1. Vương triều Đặng Vũ Chính
 Gia đình trị điển hình nhất là “Vương triều Đặng Vũ Chính”.
Năm 1995, Đặng Vũ Chính được cử giữ chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 2 (TC2) thay thế Nguyễn Như Văn về hưu.
Do những thủ đoạn tinh vi, Vũ Chính đưa cả gia đình vào nắm quyền Tổng Cục 2. Không những thao túng trong nội bộ TC2, mà còn khống chế cả các Ủy viên TW đảng, và ngay cả Tổng Bí Thư, Thủ tướng cũng không dám hó hé phản kháng, bởi vì tay của ông nào cũng đã nhúng chàm, không có ai còn trong sạch, thanh liêm hay cương trực cả. Người thì tham nhũng, ăn hối lộ, kẻ thì bị sập mỹ nhân kế, ăn chơi sa đoạ…TC2 đã thu thập chứng cớ, ngụy tạo hồ sơ cho nên tất cả đều im hơi lặng tiếng, làm ngơ để cho TC2 lộng quyền, tác yêu tác quái.


 2.2. Tổng Cục 2
Tổng Cục 2 là Tổng cục tình báo Bộ Quốc Phòng, hoạt động theo Pháp lệnh tình báo do Chủ tịch Quốc Hội Nông Đức Mạnh ký ngày 14-12-1996, và Nghị Định số 96-CP do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 11-9-1997.
TC2 quyền hành vô giới hạn, bao gồm tất cả mọi ngành, mọi cơ quan, mọi lãnh vực sinh hoạt quốc gia, từ kinh tế, xã hội, văn hoá…nguồn tài chánh rất lớn, gần bằng phân nửa ngân sách Bộ Quốc Phòng.
Đặng Vũ Chính là tay chân thân cận của Lê Đức Anh, Bộ trưởng bộ Quốc Phòng.
Dư luận trong quân đội gọi gia đình nầy là “Vương Triều Vũ Chính”.
• Phò mã Nguyễn Chí Vịnh
Con rể của Đặng Vũ Chính là Nguyễn Chí Vịnh, được cử giữ chức Cục trưởng Cục 12, sau lên Tổng Cục Phó rồi cuối cùng lên chức Tổng Cục Trưởng.
• Hoàng tử Đặng Vũ Dũng
Đặng Vũ Dũng từ lao động xuất khẩu được đưa về cho mang cấp bậc thượng úy, mặc dù chưa có một ngày lính nào. Hoàng tử Dũng giữ chức vụ Giám đốc công ty Xây Dựng Hồng Bàng, thuộc TC2.
• 2 công chúa Đặng Thị Mai, Đặng Thị Tuyết
Hai công chúa nầy cũng nhảy ngang vào quân đội, mang lon đại úy, phụ trách công tác mật.
• Hoàng hậu Nguyễn Thị Nhẫn
Hoàng hậu nầy thật là khủng khiếp, đạo diễn cho hoàng đế Vũ Chính đưa toàn bộ cán bộ gốc Thái Bình vào giữ các chức vụ lãnh đạo trong TC2.
Gốc gác là con buôn bình thường, hoàng hậu ép buộc vợ của cụu Tổng Cục Trưởng Nguyễn Như Văn phải nhường chức Giám đốc khách sạn Hoàng Đế, và buộc vợ của Tổng Cục Phó phải nhường chức Giám đốc chi nhánh miền Trung của công ty “Decatour” lại cho bà.
Mua quan bán chức là nghề của hoàng hậu nầy.
2.3. Tổng Cục 2 gây sóng gió
 1
 Nguyễn Chí Vịnh là con út của Nguyễn Chí Thanh, là con nuôi của Lê Đức Anh và con rể của Đặng Vũ Chính.
TC2 nghe lén, thu âm điện thoại của các Ủy viên TW và cả các lãnh đạo khác. Ba vụ lộng hành động trời, là chiến dịch hạ nhục tướng Võ Nguyên Giáp, vụ án Sáu Sứ-Năm Châu và vụ T4.
2.3.1. Chiến dịch hạ nhục Võ Nguyên Giáp.
 NYT2009062810201375C
 
Đặng Đình Loan

Đặng Đình Loan là tay chân thân tín của Lê Đức Anh, được cấp giấy giới thiệu đi thuyết trình từ Nam ra Trung, mục đích triệt hạ Võ Nguyên Giáp.
Ở Huế, Đặng Đình Loan tiết lộ những điều “cơ mật” như sau:
– Võ Nguyên Giáp là con nuôi của trùm mật thám Pháp tên Marty.
– Giáp tiếm quyền Phùng Đức Kiên, đứng ra thành lập Quân Giải Phóng
– Ở trận Điện Biên Phủ, Giáp sợ chết, cứ nằm dưới hầm suốt. May nhờ có Nguyễn Chí Thanh và Hoàng Văn Thái chỉ huy nên mới thắng lớn, rồi Giáp lại giành vinh quang cho mình, và luôn luôn khoe là một trong 10 tướng tài giỏi nhất thế giới.
– Giáp có tội theo phe “xét lại chống đảng” của Kroutchchev và thụt thò làm gián điệp cho Đại sứ Liên Xô Sherbacov.
– Giáp giỏi tài nịnh bợ ông Hồ
– Sau Hiệp định Giơ neo quơ, Giáp cho phục viên 8 vạn quân, đưa 2 vạn ra nông trường. Đó là sai lầm về chiến lược.
– Khi đánh Mỹ, Giáp sợ chết, không dám vào miền Nam vì sợ Hoa Kỳ bỏ bom nguyên tử.
– Năm 1974, khi làm chiến lược, Giáp làm kế hoạch 4 năm nên bị Lê Duẩn bác. “Nếu 4 năm thì đừng đánh nữa”.
– Giáp bê bối, tằng tịu với vợ của nhà văn Đào Vũ, khi bà nầy đến dạy Piano ở nhà riêng.
– Lẻ ra Giáp phải bị loại trừ từ lâu, nhưng vì sợ Liên Xô cúp viện trợ, nên loại ra khỏi Bộ CT năm 1981 ở Đại Hội V. Loại ra khỏi BCH/TW đảng năm 1991 ở Đại Hội VII.
Đặng Đình Loan thừa lịnh Lê Đức Anh hạ nhục Giáp. Nhiều cán bộ chê Giáp hèn nhát, cầu an giữ mạng như con rùa đen rút đầu, trong khi thế lực trong quân đội còn khá lớn.
2.3.2. Phe binh vực Võ Nguyên Giáp “phản pháo”
 Các “lão thành cách mạng” phản pháo, tố cáo Lê Đức Anh:
– Việt gian. Lê Đức Anh làm tay sai cho chủ đồn điền Pháp, với chức cặp rằng, (thầy cai), độc ác, đánh đập phu cạo mũ không nương tay. Mặt rổ hoa mè, mắt mù vì bịnh đậu mùa.
– Khai man lý lịch.
– Tự chui vào đảng mà không ai kết nạp.
– Đào ngũ. Trong khi ở khu 9, miền Tây Nam Bộ, bỏ chạy nên một số cơ sở vật chất dự trữ cho miền Đông bị phá vở.
– Thiếu khả năng. Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm về chính trị và quân sự từ 1979 đến 1989 khi lãnh đạo bộ đội VN chiến đấu ở Campuchia.
– Thiếu đạo đức. Lê Đức Anh vu khống cho rằng vợ ngoại tình, xin ly dị để lấy vợ khác. Phạm Hùng, Nguyễn Thị Định và cán bộ miền Nam đã biết và bất bình, nhưng được Lê Đúc Thọ bao che.
– Nghi can là thủ phạm về cái chết của 2 đại tướng Lê Trọng Tấn và Hoàng Văn Thái. Hoàng Văn Thái là thông gia với Võ Nguyên Giáp.
  1. 3.3. Vụ án Sáu Sứ-Năm Châu
 Thời gian trước Đại Hội VII. Vào tháng 5 năm 1991, một tập tài liệu 11 trang có tựa đề là “Tình hình hoạt động bè phái trong đảng”, với ghi chú ở phía dưới là “Báo cáo của Bộ Chính Trị tại Đại hội TW-12. Khoá VI”, được tung ra ở Câu lạc bộ Ba Đình.
Thật ra, tài liệu do Tổng Cục 2 soạn ra theo lịnh của Lê Đức Anh, rồi mang danh hiệu là Báo cáo của Bộ Chính Trị. Lê Đức Anh là người có quyền lực rất lớn, bao trùm tât cả các ngành và các lãnh vực của sinh hoạt quốc gia.
1) Sáu SứSáu Sứ là bí danh của Nguyễn Thị Sứ, một đảng viên lâu năm miền Nam trong hội Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ.
Năm Châu là Hồ Văn Châu, một sĩ quan Việt Cộng về hưu trong hội Cựu Chiến Binh TP Sài Gòn.
Tài liệu ghi lại lời khai của Sáu Sứ tại TC2, được ghi trong 16 cuốn băng, nội dung như sau:
Kể từ năm 1991, Sáu Sứ và Năm Châu đã ra Hà Nội nhiều lần để vận động các đảng viên kỳ cựu, các sĩ quan cao cấp, nhằm mục đích đưa tướng Võ Nguyên Giáp lên làm Tổng Bí Thư, đưa Trần Văn Trà lên làm Thủ tướng, để rồi sau đó, Trà sẽ thay thế Giáp làm TBT.
Vận động đưa Trần Danh lên làm Bộ trưởng Công an, thay thế Mai Chí Thọ.
Năm Châu, Sáu Sứ bàn bạc âm mưu đó với những bộ hạ cũ của tướng Giáp như Lê Hoàng, Hà Kế Tấn, Trường Giang và những “lão thành cách mạng” có uy tín, nhằm tác động các đại biểu tham dự Đại Hội Đảng VII.
Họ còn đích thân gặp tướng Giáp để bàn mọi chuyện và xin chỉ thị.
Tài liệu còn cho biết, nhóm nầy còn âm mưu sách động quần chúng, sinh viên, cựu chiến binh, công nhân… xuống đường biểu tình, đưa ra yêu sách về vai trò nhân sự như đã nói trên.
Đặc biệt, một âm mưu ám sát một số nhân vật, mà trước hết là Lê Đức Anh. Theo tài liệu, tướng Giáp được nhắc đến nhiều lần dưới cái bí danh “a.V” (anh Văn) trong các bức thơ tuyệt mật của bọn gây “bè phái chống đảng”, mà cơ quan an ninh đã nắm được.
Sáu Sứ đã thú nhận với nhân viên điều tra TC2 là hoạt động của họ có liên hệ mật thiết với tướng Giáp.
Rõ ràng là tài liệu cáo buộc Võ Nguyên Giáp “gây bè phái chống Đảng”.
Tướng Giáp vẫn im lặng. Chờ cơ hội. Đó là trước Đại Hội IX, Giáp viết thơ đề nghị: “Thông báo công khai về các tội trạng đó trong BCH/TW khóa IX, Bộ CT, Ban Bí Thư và Ban Kiểm Tra đảng của các khoá trước”. Theo thủ tục của đảng, thì đó là việc phổ biến rất hẹp, rất hẹp và tuyệt mật.
Sự nghiệp Lê Đức Anh lên cao tuyệt đỉnh, nhưng rồi cũng phải xuống, chỉ có điều là nó xuống một cách quá nhanh chóng trong thời gian chưa hết nhiệm kỳ. Đó là ở giữa khóa, được “mời” xuống làm cố vấn, và đến Đại Hội IX thì không còn giữ một chức vụ nào cả. Và Lê Khả Phiêu cũng ngậm ngùi vì bị “chìm xuồng” theo Lê Đức Anh trong những vụ đấu đá nhau, tranh giành quyền lực trong đảng.
Những hành động lưu manh, hèn hạ được thực hiện chỉ vì lợi ích phe nhóm, bè phái mà HCM gọi là “sự mất đoàn kết trong đảng”. Nhưng đối với đồng bào VN, thì đảng lúc nào cũng quang vinh, trung thực, vĩ đại…có đường lối đúng đắn, nhưng bên trong, anh nào cũng thúi rùm, đê tiện và vô đạo đức. Nhờ họ đấu đá nhau, vạch lưng nhau, thì nhân dân mới biết các ông ấy trong sạch và anh hùng đến bực nào. Những tên bán nước, mất tư cách, vô đạo đức, tham ô, thế mà khi chết thì được làm quốc táng, buộc nhân dân cả nước phải để tang, thật là tội nghiệp cho dân tộc VN quá.
Một bức thơ ngỏ được lưu chuyền rộng rãi kết tội bọn “Tứ nhân bang”, tức là “bè lũ 4 tên họ Lê”, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu.

 2.3.4. Vụ T4
 T4 là vụ việc do 4 người chủ xướng họ Trần, bắt đầu bằng chữ T, được xem như một vụ án cực kỳ nghiêm trọng, trong đó có liên quan đến gần như toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN. T4 do Tổng Cục 2 dựng lên, mà nguồn gốc là một điệp viên VC được gài vào cơ quan CIA của Hoa Kỳ báo cáo lại, đó là CIA đã chỉ đạo một âm mưu đảo chánh do hàng chục cán bộ lãnh đạo thực hiện, trong đó gồm: Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, Trương Tấn Sang, Trương Vĩnh Trọng, Phạm Gia Khiêm, Phan Diễn, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Văn Dũng, Võ Thị Thắng…đa số gốc miền Nam.


4 người họ Trần là Trần Bạch Đằng, Trần Văn Giàu, Trần Trọng Tân, Trần Văn Tạo.
 Mục đích T4 là chia rẻ nội bộ, làm cho nghi kỵ lẫn nhau và xa lánh nhau, co rút lại, thụt vào thế thủ để được yên thân, đưa đến việc cô lập tướng Võ Nguyên Giáp.
“Âm mưu của T4 là chủ trương ly khai miền Nam, thành lập một nước VN cờ Vàng ngôi sao Đỏ, chống lại Cờ Đỏ Sao vàng”.
Những nội dung trong vụ T4:
– Bản tin số 497 ngày 24-3-1999:
Các chuyên gia CIA nhận định cuộc đảo chính có thể xảy ra vào tháng 7, tháng 8 năm 1999 ở VN. Vai trò chủ chốt là Trương Tấn Sang và Trần Văn Tạo. Tư Sang, Tư Tạo tập trung thu phục phái tù Côn Đảo ở TP/HCM. Phái nầy có khả năng trở thành tổ chức hợp pháp đối lập với đảng CSVN, lấy Sài Gòn làm căn cứ”.
– Đã có sự liên kết giữa Ngô Xuân Lộc, Phạm Gia Khiêm, Nguyễn Khánh Toàn, Đoàn Mạnh Giao, Lê Văn Dũng, Phan Trung Kiên, Nguyễn Văn Rop. Việc đảo chính của phe nầy tập trung vào kỳ họp thứ 2 của Quốc Hội.
– Bản tin ngày 2-8-1999:
“Tối 6-1-1999, một cuộc họp do Tư Sang tổ chức, tham dự có Võ Trần Chí, ông Đặng, ông Ngô và một nhân vật bí hiểm, bàn việc tìm mọi cách để bảo vệ chức vụ Bí Thư Thành Ủy cho Tư Sang. Bằng mọi cách kéo vây cánh để cô lập Lê Khả Phiêu và tiến tới thay thế Phiêu bằng một hội nghị bất thường, vì Phiêu không ủng hộ Thành ủy và Tư Sang”.
Một kế hoạch đảo chính chính trị, cải cách chính trị do CIA soạn thảo, đã trình lên Hội đồng An Ninh và Tổng thống Mỹ, mà CIA sẽ chỉ đạo thực hiện.
Toàn bộ kế hoạch là do TC2 soạn ra, mục đích gây nghi kỵ lẫn nhau, chia rẻ mà chủ yếu là nhằm đánh gục tướng Võ Nguyên Giáp, theo ý đồ của Lê Đức Anh.
  1. 3.5. Nguyên nhân sâu xa đưa đến việc 2 đại tướng hạ độc thủ cho nhau.
 Thật ra thì chỉ có Lê Đức Anh chơi sát ván tướng Giáp mà thôi, trái lại, tướng Giáp hèn nhát ra mặt. Những người ủng hộ trách tướng Giáp là chỉ chờ ăn cổ đã dọn sẵn mà thôi.
Nguyên nhân bắt đầu từ khi Trường Chinh bị mất chức đúng vào lúc mà Lê Duẩn và Lê Đức Thọ từ trong Nam ra, muốn chiếm quyền lực, nên trước tiên phải triệt hạ một người có danh tiếng và được HCM bao che là tướng Võ Nguyên Giáp. Tiên hạ thủ vi cường, ra tay trước để cho tướng Giáp ra rìa.
Màn tranh giành quyền lực bắt đầu từ khi HCM về già và bị Lê Duẩn khống chế.
Kết quả cuộc đấu đá nhau làm cho hơn 30 “công thần” bị phế bỏ trong mục đích chặt vây cánh của tướng Giáp.

 Sau ngày 30-4-1975, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ tiếp tục đì tướng Giáp, nhưng không dám làm mạnh vì sợ Liên Xô cúp viện trợ. Thân cận, chân tay của tướng Giáp bị tù đày, một số bị tống đi xa và phân tán mỏng. Thế là một số người từ các địa phương được đưa về Hà Nội, và Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu trong số những người đó.
Lê Đức Anh được thăng cấp vượt 2 bậc. Lê Khả Phiêu từ đại tá, về Hà Nội lên thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng trong thời bình.
Cuối năm 1986, Lê Đức Anh lập công đầu với Lê Đức Thọ, là báo cáo gấp cho Thọ biết về một Kiến Nghị của đa số các đại biểu trong Đại Hội Toàn Quân, là kiến nghị đưa tướng Giáp trở lại Bộ CT để làm Thủ tướng, cùng với Trường Chinh làm Tổng Bí Thư và Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch nước.
Nước cờ của Lê Đức Thọ.
Được tin, chỉ nội trong một đêm 17-12-1986, Lê Đức Thọ đã nẩy ra một sáng kiến, là tự mình xin về nghỉ hưu, rồi dùng sức ép kéo theo Trường Chinh và Phạm Văn Đồng cùng về hưu. Đây là sự ép buộc, vì nếu 2 ông nầy từ chối, thì mang tiếng là tham quyền cố vị. Thế là tướng Giáp bị gạt ra ngoài quyền lực, do đó và từ đó.
Tóm lại, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cho tướng Giáp ra rìa là do tranh giành quyền lực mà đấu đá, hạ nhau.
4* Con cháu các cụ
Ở miền Bắc, cụm từ “Con cháu các cụ (CCCC=4C) chỉ con cháu của các cán bộ VC cao cấp trong đảng và nhà nước.
4.1. Con Lê Duẩn
* Lê Ngọc Báu, cùng vợ là Nguyễn Thị Nga và con trai là Lê Anh Tuấn, bỏ ra 60 tỷ đồng mua 40% cổ phần sân Golf Đồng Mô. Báu còn sở hữu nhiều cổ phần từ Bắc chí Nam:
– Cổ phần ở 3 siêu thị Sài Gòn
– Cổ phần ở Ngân hàng Á Châu
– Cổ phần ở công ty Vàng bạc và Đá quý
* Lê Kiên Thành là một tỷ phú cở bự ở VN. Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Techcombank. Chủ tịch công ty cổ phần Xây Dựng và Phát Triển Đô Thị. Chủ 1 sân Golf, Tổng Giám đốc công ty Thiên Minh.
* Lê Kiên Trung. Cục Trưởng Cục Hải quan TP/HCM, một cơ quan béo bở nhất Sài Gòn.
* Lê Hãn. Đại tá, Cục trưởng Cục Quản Lý Các Nhà Trường QĐ. Tư lịnh Bộ Tư Lệnh Bảo Vệ Lăng HCM.
* Lê Thị Diệu Muội. Thứ trưởng Bộ Nội Thương.
  1. 2. Con rể Đỗ MườiĐỗ Mười nhận hối lộ 1 triệu đôla của một công ty Mỹ, qua trung gian 1 công ty Nam Hàn. Ông nầy đi đêm với Mỹ việc gì thì không ai được biết, nhưng trước kia, ông là người lớn tiếng chửi Mỹ hơn ai hết.
    Vì đứa con trai khùng khùng, ba trợn, chạm mát dây thần kinh, nên Đ.M. giao tiền bạc cho con gái và rể tên Phương. Phương cũng là một tỷ phú “tư bản đỏ” nổi tiếng ở VN, sở hữu chủ của khách sạn Bảo Sơn và hảng xe Taxi Việt Phương.
    4.3. Con Võ Văn Kiệt
    Phan Thanh Nam, giọt máu rơi của Võ Văn Kiệt, cũng là một trùm Mafia ở VN, chuyên làm áp phe cho các công ty nước ngoài, thu hoạch 30 triệu đô la, sở hữu khách sạn Plaza, bãi tắm Ty-Tốp. Có tài liệu ghi, Võ Văn Kiệt có 370 triệu USD trong ngân hàng nước ngoài.
  2. 4. Con Phan Văn KhảiPhan Tấn Hoàn, tự là Hoàn Ty, cũng là trùm Mafia ở VN. Hắn nhập cảng lậu nhiều tàu, chứa đầy xe ô tô cũ vào VN, rồi bán sang Trung Cộng. Hoàn Ty làm chủ khách sạn Hoàng Gia và Planet ở Sài Gòn và Hà Nội. Ăn chơi sa đoạ, cờ bạc, buôn lậu, cầm đầu một băng đảng gồm con ông cháu cha (COCC). Năm 1995, vì tranh giành địa bàn buôn lậu, nên Hoàn Ty bắn chết Phạm Văn Hưng, là công an, con của Phạm Thế Duyệt. Nội vụ được ém nhẹm. Nghe nói, sau vụ nầy, Phan Văn Khải xin từ chức, nhưng đảng không cho, để tránh tiếng xấu cho đảng, chờ hết nhiệm kỳ rút lui êm mà vẫn còn được ca ngợi là anh hùng dân tộc, có công với đất nước. Nhiều bạn bè cũ của Khải viết thơ chửi tơi bời như cái mền rách, căn cứ vào nguyên tắc của kẻ sĩ là “Tu thân, tề gia, trị nước, bình thiên hạ”. Ông Khải nổi tiếng là ưa xổ tiếng Đức ở đầu câu là “Đ.M.”
  3. 5. Con Lê Khả PhiêuLê Diễn. Thi thố tài năng trong lãnh vực xây dựng, chỉ lo chạy hợp đồng ăn hoa hồng phần trăm. Hợp đồng ký xong thì bợ bạc, thật nhẹ nhàng, nhưng thu hoạch hàng triệu đô la.
  4. 6. Con rể Võ Nguyên GiápTrương Gia Bình là người sở hữu công ty FPT, cung cấp dịch vụ Internet trên toàn quốc. “Cựu” rể tướng Giáp cũng là một tỷ phú đỏ ở VN.
  5. 7. Con Nguyễn Tấn Dũng
    Con gái Nguyễn Thanh Phượng, Chủ tịch Quỷ Đầu Tư Bản Việt (Viet Capital Fund Management-VCFM) với số vốn 55 triệu đô la.
    Ngoài ra, các CCCC như Lê Nam Thắng, con Lê Đức Thọ, nắm Bộ Bưu Chính Viễn Thông, Lê Mạnh Hà, con Lê Đức Anh, nắm Sở BCVT Sài Gòn. Ngô Hoàng Hải, rể Nông Đức Mạnh nắm Phòng Tư Vấn PMU-18 của Bùi Tiến Dũng. Trần Tuấn Anh, con Trần Đức Lương, Tổng Lãnh Sự CSVN ở San Francisco, Hoa Kỳ.
 5* Những Ông Trời Con ở Việt Nam
 5.1. Quý tử của Trung tướng Nguyễn Đức NhanhNguyễn Đức Quang.
 Nguyễn Đức Nhanh, Nguyễn Đức Quang  *   Quang Béo đi BangKok như đi chợ
 Dân Hà Nội sững sờ về cái đám cưới của con trai Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh Phó Tổng cục An Ninh 2 Bộ Công An kiêm Giám đốc Sở Công an Hà Nội, là Nguyễn Đức Quang, kết hôn với con gái của Thứ Trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn. Hôn lễ kéo dài 3 ngày liền với hàng ngàn khách tham dự. Đặc biệt là ông Nhanh gởi thiệp mời đến những trùm xã hội đen chơi thân với cậu Quang. Mời, nhưng không cho tham dự, và gợi ý là bao thơ chúc mừng không dưới 3,000 đô la.
Cậu quý tử tâm sự: “Thỉnh thoảng mát trời, sang Bangkok mua vài món rồi về. Lên chợ Đồng Xuân chán bỏ bố. Toàn là mấy con mụ phe chửi bậy không chịu được. Thỉnh thoảng lại lôi giấy ra đốt (phong long) suýt cháy cả cái quần xịn của mình.”
Con rể của Trương Mỹ Hoa, Phó chủ tịch nước, giết người rồi hạ cánh an toàn sống phe phẩy ở nước ngoài.
  1. 2. Nông Đức Hải và vụ án ô tô Lexus
 5.2.1. Vụ án rùng rợnSáng ngày 14-2-2009, cả Hà Nội xôn xao về vụ án rùng rợn, rơi đúng vào ngày Lễ Tình nhân (Valentine’s Day). Nạn nhân tên Nguyễn Tiến Chính bị cắt cổ, nằm chết trên vũng máu lênh láng trong chiếc xe Lexus, nằm ngay ngã tư Kim Mã-Vạn Bảo, quận Ba Đình, HN.
Nạn nhân là cựu cán bộ công an tỉnh Cao Bằng, hiện là một Giám đốc doanh nghiệp rất thành đạt.
 Nạn nhân trong xe ôtô và tiền, đồ vật của nạn nhân còn nguyên sau khi bị sát hại
 Ngày 17-2-2009, kết quả pháp y cho biết, nạn nhân bị 2 vết cắt dài 15.9cm, sâu 3.5cm làm đứt cả cả động mạch và khí quản, đưa đến cái chết do mất máu “cấp”.
Ngày 19-2-2009, cơ quan điều tra cho biết hung thủ tên Vũ Thị Kim Anh, 22 tuổi, SV Đại học Sư Phạm Hà Nội.
  1. 2.2. Mối tình Nông Đức Hải
 Nông Đức Hải là con trai của Nông Quốc Tuấn, là cháu nội của TBT Nông Đức Mạnh, và nếu suy ra cội nguồn, thì Hải là cháu cố, vô thừa nhận của Hồ Chí Minh. Hai anh em, Nông Đức Hải và Nông Đức Dũng nổi tiếng lẫy lừng trong giới đại gia trẻ tuổi của đất Hà thành.
Người yêu của Nông Đức Hải là Vũ Thị Kim Anh, sinh viên năm thứ tư của Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Bà mẹ của Kim Anh cho biết: “Thời gian gần đây, Kim Anh có người yêu. Gia đình nhà trai ngỏ ý xin cưới, và cả 2 gia đình đồng ý là chờ vài tháng nữa, khi Kim Anh tốt nghiệp, thì sẽ tổ chức hôn lễ”.
Người thanh niên đó là Nông Đức Hải. Như thế, Kim Anh sẽ là cô dâu tương lai của Nông Quốc Tuấn và cháu dâu của TBT Nông Đức Mạnh.
 Vũ Thị Kim Anh tại cơ quan công an & trong một màn văn nghệ
















 
  1. 2.3. Mối tình tay ba
 Vũ Thị Kim Anh quan hệ với Nguyễn Tiến Chính từ năm 2006, Chính lớn hơn Kim Anh 20 tuổi. Sau khi gặp Nông Đức Hải thì Kim Anh chủ động cắt đứt quan hệ. Tiến Chính áp lực, hăm doạ sẽ công bố quá khứ của Kim Anh để mời Kim Anh đi chơi.
Con trai của Tiến Chính là Nguyễn Tiến Trung cũng đã từng có “quan hệ” (tình dục) với Kim Anh, và chính Tiến Trung cho số điện thoại của Kim Anh cho bạn cùng học khóa công an, là Nông Đức Hải, để Hải làm quen.
Nông Đức Hải biết chuyện cặp kè giữa Kim Anh và Tiến Chính. Đã có lần Hải than phiền: “Tại sao Kim Anh lại quan hệ bừa bãi quá như thế”.


 5.2.4. Cơ quan điều tra nhức đầuVụ án xảy ra trong khu ngoại giao, nên áp lực phải giải quyết cho xong rất lớn. Cái chết đầy bí ẩn, phi tang chứng cớ, không để lại một dấu vết nào ở hiện trường, chứng tỏ sát thủ là một tay có kinh nghiệm trong nghề. Hơn nữa, vụ án có liên quan đến cháu nội của TBT Nông Đức Mạnh, đã làm cho nhân viên điều tra nhức đầu.
Một ban chuyên án gồm 150 cán bộ chuyên nghiệp, được thành lập dưới quyền chỉ huy của Thượng tá Nguyễn Đức Chung. Một mặt tiến hành điều tra, một mặt báo cáo xin chỉ thị cấp trên.


 Nông Đức Mạnh và bà vợ trẻ ĐB QH Đỗ Thị Huyền Tâm
  1. 2.5. Bị can bất hợp tác
 Khi bị bắt, Vũ Thị Kim Anh rất ung dung, bình tĩnh đến lạnh lùng. Không khai nửa lời. Ngồi rung đùi, thậm chí còn gác chân lên cạnh bàn nữa.
  1. 2.6. Thay đổi thái độ gây ngạc nhiên
 150 cán bộ điều tra chịu thua trước cái danh hiệu cháu dâu tương lai của TBT. Nhưng sáng ngày 20-2-2009, đại úy Nguyễn Thị Phương xuất hiện trong vai trò “đấu tranh với đối tượng gây án cứng đầu”, thì Kim Anh đã thay đổi 180 độ, từ cứng đầu sang ngoan hiền và bắt đầu cầm viết tường thuật vụ án trong bản tự khai, nhận hết tội lỗi giết người.
Bản tin Blog anhbasg tiết lộ. Lúc 1 giờ sáng ngày 20-2-2009, đại úy Nguyễn Thị Phương nhận được lịnh khẩn cấp, phải tức tốc tham gia điều tra. Đại úy Phương làm việc riêng với Thượng tá Chung liền sau đó trong đêm.
Tin tiết lộ, một kịch bản được các cố vấn mưu lược soạn ra để cho Kim Anh học thuộc lòng và viết bản tự khai.
  1. 2.7. Nội dung bản tự thú
 Đêm 13-2-2009, Kim Anh và anh Chính ăn tối xong vào khoảng 12 giờ 30. Anh Chính lái xe đến đậu ở ngỏ hẻm 279 phố Đội Cấn, phường Ngọc Hà, Ba Đình tối om và vắng người, đòi quan hệ tình dục. Kim Anh từ chối và xuống ngồi ở băng ghế sau. Chính kéo ghế lái cho ngã hết mức về phiá sau, nằm ngữa trên ghế, thò tay vào ngực Kim Anh và sờ soạn. Kim Anh không đồng tình, nhưng Chính đã tiếp tục sờ soạn đến 4, 5 lần. Sau cùng, khi thấy Chính kéo khoá quần (Zipper) xuống và kéo áo ra khỏi quần, với ý định “quan hệ”, Kim Anh vội lấy con dao gọt trái cây trong cái túi lưới ở sau ghế lái, tay trái đè đầu, tay phải dùng dao cắt cổ Chính.
 Sau đó, Kim Anh bỏ chạy. Ném con dao xuống mương, tháo SIM điện thoại ra vứt đi, rồi ném luôn điện thoại vào bụi cây.
Kim Anh gọi chiếc Taxi đến nhà anh Nông Đức Hải, rồi cùng nhau ra thuê nhà nghỉ và ở đó đến trưa mới trả phòng.






 
  1. 2.8. Những mâu thuẩn và vô lý trong lời khai.
 - Không lưu lại một dấu vết nào ở hiện trường. Không tìm thấy con dao, SIM, điện thoại và ngay cả dấu tay nữa. Dẫn đến nghi ngờ sát thủ là một tay chuyên nghiệp. (Nông Đức Hải đang học trường công an)
– Không tìm thấy chiếc Taxi, đưa đến nghi ngờ là có người thứ ba chở Kim Anh ra khỏi hiện trường.
– Cái túi đựng con dao ở sau ghế lái là túi da, chớ không phải túi lưới như lời khai.
– Con dao gọt trái cây không có khả năng cắt dài và sâu làm đứt cả động mạch và khí quản.
– Ở vị trí ngồi xa trên băng ghế sau, với tay trái đè đầu không đủ sức làm cho nạn nhân phải nằm yên, không vùng vẫy đuợc, để bị cắt nhát thứ hai cũng ở một vị trí như trước.
– Về con dao giết người, chị Trần Thị Yến Loan, vợ của anh Chính, khẳng định trên xe của anh Chính không có con dao nào trên ô tô cả

 Ở toà án, Chủ tịch Hội đồng Xét xử nhiều lần tuyên bố là Nông Đức Hải không biết gì về vụ việc đã xảy ra trước khi Kim Anh đến gặp anh ta rồi ra nhà nghỉ.
Còn nhiều chi tiết mâu thuẩn và vô lý khiến cho người ta nghi ngờ Nông Đức Hải có vai trò trong vụ giết người rùng rợn nầy. Dư luận cho rằng, dưới chế độ nầy, công lý luôn luôn đứng về phía đảng CSVN.


 6* Kết
Chế độ gia đình trị trong đảng CSVN đã tung hoành, quậy nát cả xã hội và đất nước VN. Kể cả việc cắt đất dâng biển, bán nước cho Trung Cộng nữa. Đảng CSVN là một đảng Mafia thật sự của những gia đình gây tội ác.
Toàn dân và cán bộ đảng viên phải luôn luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, nghĩa sau khi trung thành với Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang thì tiếp tục trung thành với Nguyễn Thanh Nghị (con của Nguyễn Tấn Dũng) với Nông Quốc Tuấn, Phạm Bình Minh…nói chung là thế hệ nối tiếp.

 Ngày nào đảng CSVN còn, thì dân tộc còn…nhiều khổ nạn.

 Trúc Giang



Có thơ rằng:

 Ta con ông Tuấn cháu ông Mành
Lêu lổng từ xưa vốn nổi danh
Tiền bạc mặc cho ông, bố kiếm
Ngắn ngày ta phải hưởng cho nhanh
Mạng người xứ sở coi như ngóe
Thời Bác ngày xưa xác vất quanh
Ông thách đứa nào dám mở lại

Hồ sơ “Nữ sát thủ” Kim Anh.




__._,_.___